Đọc để tìm hiểu thêm
2. Vấn đề lên tiếng cảnh báo cho Phật tử
Đối với vấn đề anh thắc mắc là quý Thầy biết rõ mà không lên tiếng chúng tôi xin trình bày là thời gian đầu mọi người tại Vạn Phật Thánh Thành theo phương pháp "mặc tẩn" như Hòa Thượng Tuyên Hóa đã nói:
Ví như một vị Tỳ Kheo có tánh xấu ác thì mọi người dùng phương pháp "mặc tẩn" để hoán cải họ. Sao gọi là mặc? Mặc là im lặng, không có giảng giải gì thêm với họ. Tẩn là gì ? Nghĩa là mọi người không được trao đổi, quan hệ gì với họ. Hãy dùng sự "im lặng" của đại chúng để giải hóa họ. Phàm gặp phải hạng Tỳ-kheo xấu, không biết đạo lý, lấy chánh làm tà lấy tà làm chánh, hoặc không phân biện thị phi đen trắng, không hiểu đúng Phật pháp, thì đừng giao tiếp, đừng nói chuyện với họ, đừng để ý tới họ, thì nên coi như họ không có, như vậy lâu dần họ sẽ tự phản tỉnh, họ sẽ nhận ra rằng những điều họ hành động lâu nay chẳng đúng với Phật pháp, và từ đó cải tà quy chánh, y giáo phụng hành. (7)
Vào năm 1993, Hòa Thượng Tuyên Hóa đã ra thông báo lưu ý mọi người về những kẻ lạm dụng danh nghĩa của ngài:
Phật pháp đến nay đang trên đà xuống dốc. Ngoại đạo lộng hành. Không ngờ có những kẽ vô liêm sĩ, dám giả mạo người xuất gia hay cư sĩ tại gia của Vạn Phật Thánh Thành. Họ lợi dụng danh nghĩa của Vạn Phật Thánh Thành ra ngoài dối gạt, lừa bịp, làm đủ mọi tội ác. Lại giả mạo nói thừa mệnh của bần tăng mà đi khắp nơi hóa duyên, hầu lừa gạt thiên hạ. Nay tôi trân trọng tuyên bố để mọi người cảnh giác, đừng bị những kẻ vô liêm trong Phật giáo lừa gạt. (8)
Cuối năm 1999, ông CE Hằng Trường lại phạm lỗi khác. Trong lễ Yết-ma lần sau vào năm 1999, để sám hối ông ta lại xin nhập thất để học kinh Hoa Nghiêm, nhưng trên đường về lại một chi nhánh của Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới (DRBA) để lấy đồ sang Canada nhập thất thì ông ta đã rời bỏ Chùa và đi về Hawaii ở với người chị. Sang Hawaii vài tháng thì hoàn tục và sau đó xuất gia lại với một vị HòaThượng ở Đài Loan. Về sau ông ta trở lại Nam California nhiều lần và đến năm 2001, 2002 thi về hắn California. Chúng tôi đã hy vọng ông ta sẽ sửa đổi và đã chờ một thời gian khá dài để quan sát và biết rõ hơn về đường lối tu hành cua ông ta. Nhận thấy những điều ông ta nói ra có nhiều điều không đúng sự thật và tự đặt ra những phương pháp, cách tu nhảm nhí và thí nghiệm mở Luân Xa khác hẳn đường lối của Hòa Thượng Tuyên Hóa nên đến tháng 2, 2009 Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới (DRBA) ra thông báo không chịu trách nhiệm về hành vi và ngôn ngữ của ông ta hầu cảnh giác Phật tử.
Cách nay nhiều năm, Tỳ Kheo trước đây tên là Heng Chang (Hằng Trường - Chin Er - Thân Nhĩ) và Tỳ Kheo Heng De (Hằng Đức) đã tự ý rời khỏi Vạn Phật Thánh Thành và các đạo tràng chi nhánh của Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới (DRBA) do Hòa Thượng Tuyên Hóa sáng lập. Xin thông báo rằng họ không còn bất cứ liên hệ nào với Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới (DRBA), họ không được phép đại diện cho Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới dưới bất cứ hình thức nào, và Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới không chịu bất cứ trách nhiệm nào về ngôn ngữ cũng như hành vi của họ.Hội Ủy Viên Tăng Đoàn Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới (9)
Sau đó chúng tôi có dịch bài Phật Sự Trong Mộng từ nguyên bản Mộng Trung Phật Sự và thêm phần ghi chú để độc giả cùng nhận xét kỹ càng hơn. Trong bài đó Hòa Thượng Tuyên Hóa nhắc nhở ông CE Hằng Trường hãy nhận chân ra sự huyễn mộng của thế gian và thân tâm:
Khởi bao thiện Pháp, vốn là huyễn.Tạo các ác nghiệp, cũng là huyễn.Thân như đống bọt, tâm như gió.Huyễn hóa không rễ, không thực tính.Nếu quý vị nhận ra điều này, thì đừng bao giờ phạm lỗi kiêu ngạo nữa. Lỗi này căn bản là hư huyễn, nhưng sự thật cũng là huyễn. Tại sao quý vị không tìm cái gì chân thật để làm? Tại sao phải làm điều giả, tìm cầu giả danh giả lợi? Thật ra, những việc chúng ta làm hôm nay cũng là huyễn, chúng ta chỉ trong mộng làm Phật sự. Mọi người đều đang trong giấc mộng. Chúng ta mộng thấy chúng ta đến, chúng ta mộng thấy chúng ta đi, nhưng không có gì cố định cả. Không có Pháp cố định. Đây gọi là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.Nếu trong giấc mộng chúng ta làm điều đúng thì chúng ta có công đức. Nếu làm điều sai thì tạo nghiệp chướng.” (1)3. Vấn đề Luân Xa – Mạn Đà La Siêu Độ - Hướng Dẫn Vãng Sanh bằng đưa năng lượng lên đỉnh đầuGần đây trang Thư Viện Hoa Sen http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-98_4-4990_5-50_6- 1_17-38_14-1_15-1/ có đưa bài của ông CE Hằng Trường dạy những cách tu gán ghép lấy từ ngoại đạo nhưđưa năng lượng lên đỉnh đầu: Nhắc lại những điều chúng ta cần làm để chuẩn bị cho lúc lâm chung:
-bất động
-thư giãn
-làm sao đưa được năng lượng lên đỉnh đầuLúc chết, năng lượng dưới xương cùng đi lên tâm luân, năng lượng từ đỉnh đầu cũng dồn xuống tâm luân, sau đó hội tụ vào thành một năng lượng rất nhỏ giống như cái hologram. Giây phút cuối cùng năng lượng này sẽ tụ về 1 trong 7 chỗ, nơi mình có thói quen làm nhiều nhất, làm chỗ đó nóng lên. Sau 7, 8 giờ ta có thể sờ thấy chỗ đó nóng.
Điều quan trọng là khi chết mình có làm chủ được năng lượng đó không? Tu là chuyển hóa được năng lượng mình và có khả năng đưa được năng lượng tới chỗ mình muốn, tức đỉnh đầu.
...."... Họ làm chủ được chân khí của mình, do đó họ có thể làm chân khí lên đỉnh đầu để mở LX 7. Chân khí họ ngưng tụ mà thông suốt. Họ hoàn toàn không bị sự trói buộc của thân xác. Khí lực họ không ngưng trệ, không bị kẹt."Điều này hoàn toàn khác với lời dạy của Hòa Thượng Tuyên Hóa. Trong Gậy Kim Cang Hét quyển 2, Hòa Thượng chỉ rõ:Hỏi: Đệ tử luyện tập thiền định, nhưng cứ bị điểm huyền quang giữa chặn lông mày quấy nhiễu nhiều năm. Xin Sư Phụ gia trì cho con.Đáp: Có điểm huyền quang chạy tới giữa chân mày à? Chấp tướng thi đâu đâu cũng sai, nếu chấp vào vô vi thì lại rớt vào không: " Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai." Phàm hễ có tướng thi đều là giả dối. Nếu thấy các tướng mà không chấp tướng tức là thấy Phật. Con cứ ở đó khởi tâm chấp trước, rồi thủ cái huyền quang, thủ cái đan điền, thủ cái này, thủ cái nọ thì đó không phải là pháp cứu cánh đâu; pháp cứu cánh là quét sạch tất cả pháp, rời khỏi tất cả tướng. (10)Trong việc tu hành, nếu quý vì có thể thấy thân này là giả và tâm là huyễn, thì lúc đó quý vị sẽ không có chấp trước gì cả. Chúng ta sẽ không có cái ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến; cũng không có tướng tướng mình, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Chỉ vì chúng ta không thấy chúng là không, chúng ta mới có tất cả các thứ đó. Nếu chúng ta có thể xem chúng tất cả đều là không, thì sẽ không còn tướng nào cả, ngay cả cái tự kỷ (ngã) cũng không có. Như vậy làm sao có tướng người, tướng chúng sanh, thọ giả tướng? Tất cả đều là phân biệt do chúng ta tự tạo ra!Những bài kệ truyền pháp của mỗi vị trong bảy vị Phật đều nhằm phá bỏ sự chấp trước về thân và tâm của chúng ta. Nếu chúng ta không có sự bám chấp vào thân và tâm thì chúng ta có thể hiểu được Phật pháp.Dầu quý vì có đọc bao nhiêu Kinh đi nữa, dầu niệm danh hiệu Phật nhiêu bao nhiêu lần đi nữa, hoặc dầu lạy Phật nhiều bao nhiêu đi nữa, nếu quý vị vẫn còn bám chấp vào túi da hôi thối này, thì quý vị không hiểu được Phật pháp. Do đó, trong việc học Phật pháp, quý vị nên học điều căn bản. Đừng chú trọng trên bề mặt như là cầu Phật gia hộ. Đức Phật sẽ không bảo hộ quý vị! Quý vị phải tự mình bảo hộ lấy mình. Nếu quý vị lạy Phật, tin Phật, và niệm danh hiệu Phật thì dầu quý vị không có được cảm ứng nào cả, quý vị cũng đang được bảo hộ; bởi vì những hạt giống thiện lành sẽ không bị hư hoại đi, và những hạt giống xấu ác sẽ không nẩy mầm tăng trưởng. Vì vậy, khi chúng ta học Phật , nếu chúng ta không nắm được các đạo lý căn bản của Phật giáo, chúng ta vẫn thấy thân và tâm đều có thật, thì chúng ta vẫn không hiểu Phật pháp. (11)Hòa Thượng Tuyên Hóa đã dạy cách tu Vãng Sanh rất rõ ràng là nhất tâm niệm Phật:Trước đây tôi có viết một bài kệ:Niệm Phật niệm hoài không gián đoạn,Hồng danh đồng khởi tại tâm can,Tạp niệm không sanh Tam-muội được,Vãng sanh Tịnh độ có phần sang,Trọn ngày chán nản Ta Bà khổ,Tâm niệm hồng trần dứt sạch quang,Cầu sanh Cực Lạc luôn trong ý,Nhiễm niệm dứt trừ, Tịnh niệm toàn.Ðây là tu tập pháp môn niệm Phật Tam-muội thì chắc chắn có hy vọng vãng sanh Tây phương Cực Lạc. Ðã dứt hết lòng trần của thế gian, không còn có tâm dâm dục, cũng không có tâm tranh danh đoạt lợi, tất cả tâm duyên bên ngoài thế giới này đều buông bỏ hết, xem tất cả đều là giả dối, buông bỏ nhiễm tâm quay về Tịnh độ, bài kệ này chính là thuyết minh đạo lý niệm Phật đấy. Trì danh niệm Phật giống như là cầm một vật gì, phải luôn cầm chắc trong tay mới được. Cho nên mỗi ngày đều phải niệm "Nam mô A Di Ðà Phật" để xua đuổi những tạp niệm của chính mình. Niệm Phật là pháp môn lấy độc trị độc, vọng tưởng là một thứ độc, trì danh niệm Phật cũng là một thứ vọng tưởng. Ðó là lấy vọng tưởng để ngăn vọng tưởng, cũng giống như trong quốc gia dùng binh lính để ngăn binh lính, dùng chiến tranh để dứt chiến tranh. Nếu muốn diệt hết vọng tưởng thì phải thường niệm Phật. Khi vọng tưởng diệt hết thì sẽ đạt được niệm Phật Tam-muội. Ðây là lớp thứ ba "Trì danh làm tông" trong năm lớp huyền nghĩa. (12)Qua đó chúng ta thấy cốt tủy Vãng Sanh là: Ðã dứt hết lòng trần của thế gian, không còn có tâm dâm dục, cũng không có tâm tranh danh đoạt lợi, tất cả tâm duyên bên ngoài thế giới này đều buông bỏ hết, xem tất cả đều là giả dối, buông bỏ nhiễm tâm quay về Tịnh độ. Chứ không phải là: Tu là chuyển hóa được năng lượng mình và có khả năng đưa được năng lượng tới chỗ mình muốn, tức đỉnh đầu.Chúng tôi không nghĩ là ông CE Hằng Trường hiểu rõ Luân Xa và đã mở Luân Xa. Trong Phật Giáo không quan tâm về luân xa, luân xa chỉ là huyễn. Điều quan trọng của việc tu hành là thấy rõ thế gian vô thường huyễn mộng, chân thành sám hối nghiệp chướng, sửa đổi thói xấu, tu đạo đức, dứt lòng trần, phát Bồ Đề Tâm ... Trong Ấn Độ Giáo tuy ngoại đạo nhưng họ rất đặt nặng vấn đề chân thật. Họ cũng tu tìm cách mở Luân Xa mong cầu hội nhập với Đại Ngã, với Phạm Thiên. Đức Phật sinh ra và lớn lên trong lòng Ấn Độ Giáo nhưng ngài đã gạt bỏ tất cả những khái niệm tu sai lầm này, và trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm Đức Phật đã nói rõ những ma cảnh nếu chấp vào cảnh giới. Trong khi đó ông CE Hằng Trường lại tìm cách đưa chúng vào trong Phật Giáo dù bản thân ông ta cũng chẳng hiểu Luân Xa như thế nào vì thiếu chân thật thì làm sao thế nhập được! Những người tu càng giữ giới thì càng thâm nhập Kinh Điển; càng chân thật thì càng có trí huệ, có trạch Pháp nhãn để thấy rõ và xa lánh tà Pháp. Trong khi đó ông CE Hằng Trường lại đem những khái niệm mà chư Phật Tổ xem là rác rưởi để làm Phật tử tham cầu!Trong Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn Lược Giảng, Hòa Thượng Tuyên Hóa nói về những người thích hư danh cùng những cách quảng cáo khá giống cách của ông CE Hằng Trường :Hoặc ưa thích hư danh: Hoặc là mong muốn kẻ khác đi khắp nơi thay mình tuyên truyền : "Thầy đó thật là lão tu hành ! Thật là vị đại tu hành a ! Thật là tốt a ! Như thế a ! ……". Phái rất nhiều thủ hạ, rất nhiều nhân viên đi khắp nơi tuyên truyền. Giống như "xí nghiệp hóa Phật giáo " chăng? Ðây chính là tội nhân trong Phật giáo, kẻ bại loại trong Phật giáo ! Phật giáo làm sao xí nghiệp hóa được ? Muốn xí nghiệp hóa thì ra khỏi nhà (xuất gia) gì ? Ở nhà cũng có thể làm xí nghiệp, ai cũng đều có thể buôn bán kiếm tiền. Tại sao người xuất gia, Phật giáo đồ lại làm xí nghiệp? Người thường còn nói : "Ai da ! Xí nghiệp hóa Phật giáo, hay a ! được a !…..". Ði về hướng địa ngục mà còn không biết ! Lại còn cho rằng hay, rằng tốt ! Ðó chính là cầu mong lợi dưỡng, cứ mãi kêu người đưa tiền cho mình, "Ô ! Ta làm cái này ..., làm cái này …". Thật là tham cái danh vọng hão
huyền. (13)Tháng 12 vừa qua, ông ta tổ chức Đại Hội Quán Âm với những lời hứa hẹn nhắm vào lòng tham cầu của Phật tử:* Chúng ta chính thức cung thỉnh chư Phật bồ tát tới tham dự và chỉ đạo ngay từ bước tổ chức, chứ không chờ tới ngày làm lễ chính thức, hôm 17, 18 và 19 tháng 12. Thật vậy, vì chúng ta xem Phật bồ tát là những thực tại sống động, do đó mình mời các ngài cùng tham dự trong giai đoạn chuẩn bị này. Đây là một đặc sắc của đại hội kỳ này.
* Chúng ta lại thỉnh cầu đức Phật A Di Đà hãy phóng quang gia bị ngay bây giờ. Rằng, hào quang, linh tánh và tinh thần của ngài sẽ hiện khởi (embody) trong tôn tượng bằng lưu ly, sao cho những ai thấy được tượng thì sẽ hấp thu và tiếp nhận được phước lành của đức Di Đà. Nhất là nếu những vong linh nào hữu duyên, thấy tôn tượng Di Đà này thì sẽ tức tốc vãng sinh cõi Cực Lạc. Tôn tượng Phật Di Đà bằng lưu ly này sẽ được an vị ngay tại trung ương đàn tràng mạn đà la Siêu Độ trong kỳ đại hội này đó.
* Chúng ta thỉnh cầu rằng đức Di Đà phóng hào quang khiến tất cả mọi người tham dự đều được đại lợi, cả kẻ dương, người âm. Nếu ai bịnh nặng thì nghiệp chướng tiêu trừ, bịnh hoạn chóng lành; ai gặp khó gặp nạn, sẽ vượt khó, hết nạn; ai mất việc sẽ tìm được việc; ai có việc tốt muốn làm, sẽ làm thành tựu; ai trong âm giới muốn thoát khổ, sẽ thăng xuất về cõi Tịnh Độ.Nhưng chư Phật biết rõ tâm niệm chúng sanh, không ai có thể dối gạt được chư Phật, chư Bồ Tát. Những hiện tượng thời tiết xấu chưa từng có trong mười năm qua và nhiều tai nạn trong vùng vào những ngày đó (14) cho thấy chư Phật, chư Bồ Tát đã không đến như ông ta quảng cáo.
Trong quyển Thí Luận của ông Trần Do Bân đề cập:... Hòa Thượng cũng có vì chúng sanh mà làm những buổi lễ siêu độ vong linh, nhưng Hòa Thượng chỉ nói một cách rất khiêm tốn rằng:"Suốt đời tôi, tôi không bao giờ muốn tham gia việc chạy theo các lễ hội 'tụng kinh, sám hối, Phóng Diệm Khẩu, Thủy Lục Không,' bởi tôi không đủ đức hạnh--đạo không đủ để cảm động người, đức không đủ để giáo hóa người. Chính mình còn chưa siêu độ được mình, thì làm sao có thể đi siêu độ các vong hồn? Cho nên, tôi không dám ‘to gan’ đến thế!"... "Không nóng giận, không tranh, không tham, không mong cầu, không ích kỷ, không tự lợi và không nói dối - hãy làm một con người tốt, không làm các điều ác, chỉ làm những việc lành; thì cha mẹ và tổ tiên của quý vị tự nhiên sẽ được siêu độ. (15)Tai Vạn Phật Thánh Thành, không bao giờ đề cập tu mở Luân Xa, làm Mạn Đà La Siêu Độ với hứa hẹn Phật A Di Đà sẽ đến, không đề cập mời Phật A Di Đà nhập vào tượng để ai thấy tượng thì tức tốc vãng sanh! Nếu làm được như vậy thì chư Phật với lòng Đại Bi đã làm cho thế giới Hòa Bình và giúp mọi chúng sanh vãng sanh rồi, khỏi nhọc công chư Phật, chư Bồ Tát phải giáo hóa chúng sanh qua vô số kiếp!Trong Kinh Pháp Bảo Đàn - Phẩm Nghi Vấn, Lục Tổ đã giảng:Sử quân, nếu làm mười điều thiện, thì cần gì phát nguyện vãng sanh! Còn nếu chẳng dứt lòng cưu mang mười điều ác, thì Phật nào tới rước mình! Nếu hiểu rõ vô sanh đốn pháp, thì trong một sát-na ắt thấy cõi Tây phương. Bằng chẳng hiểu rõ pháp ấy, mà cứ niệm Phật cầu vãng sanh, thì đường xa vời vợi, thế nào mà đi đặng tới cõi ấy! (16)Biết tâm lý chúng sanh luôn mong cầu đường tu tắt, mong cầu phép lạ, thần thông ... nên Hòa Thượng Tuyên Hóa đã căn dặn:Ngoại đạo gồm tất cả thiên ma ở các cõi trời, có đủ thần thông, thiên biến vạn hóa, kỳ bí khôn lường. Chúng ma luôn luôn khai triển thần thông. Trái lại đệ tử của Phật không thể hiện thần thông. Nếu có thì họ cũng không nói cho ai biết. Kẻ nào khoe mình có thần thông, thiên nhĩ thiên nhãn v.v... đều là thuộc loại tà ma được nói đến trong chương "Cảnh giới 50 ấm ma" của Kinh Lăng Nghiêm, hoặc giả họ là đồ đệ của thiên ma, hay là đồ đệ của ngoại đạo. (17)Trong bài Không Nên Tuỳ Tiện Hiện Thần Thông trong quyển Khai Thị 6, Hòa Thượng Tuyên Hóa còn nhấn mạnh hơn nữa:Gặp bất kỳ hoàn cảnh nào, người tu hành cũng không bao giờ được tự mãn, kiêu ngạo, cho rằng mình phi thường. Hãy thật cẩn trọng để không phạm phải sai lầm nào về lý nhân quả. Bằng không, hậu quả sẽ thật khó lường.Người tu hành chủ yếu là tu giới thanh tịnh, tức là ba nghiệp thân, khẩu, ý đều nên thanh tịnh. Người có thần thông, tuyệt đối không được nói là mình có thần thông; hà huống mình vốn không có thần thông mà lại dám nói dối, há đó không phải là tạo nhân đọa địa ngục sao? (18)
Trong quyển Thí Luận của ông Trần Do Bân chỉ rõ:- Vị Thầy dùng thần thông và các điều kỳ dị làm "công cụ" để thu hút những chúng sanh có lòng hiếu kỳ; đó là tà.- Vị Thầy tự ý thêm bớt, sửa đổi các quả vị tu hành trong Phật Giáo và giải thích lệch lạc ý nghĩa của "tín, giải, tu, chứng," còn tự cho mình là giáo chủ; đó là tà.- Vị Thầy tự lập ra tông phái rồi tự xưng là giáo chủ mà chính mình lại không có căn bản chân thật về đạo lý Phật Giáo; đó là tà. (15)Trong Kinh Pháp Hoa Lược Giảng - Phẩm Thí Dụ, Hòa Thượng Tuyên Hóa đã nói rất rõ về Phạm Hạnh Thanh Tịnh của người tu hành chân chánh:Bồ-tát kỳ cựu này ở nơi vô lượng vô biên, trăm nghìn muôn ức Phật, từng tu phạm hạnh thanh tịnh. Tịnh là thanh tịnh; tịnh khiết, không dính một hạt bụi nào, đây gọi là thanh tịnh. Đoạn dứt muôn dòng suy nghĩ, chẳng nghĩ ngợi điều gì cả, đó mới thật là thanh tịnh.Lại có điều gì gọi là thanh tịnh nữa không? Tôi sẽ nói cho quý vị biết một điều thanh tịnh rất triệt để, nếu quý vị muốn thật thanh tịnh thì phải đoạn tuyệt quan hệ với “tiền”. Quý vị có tiền thì không thanh tịnh; không có tiền thế mới là rất thanh tịnh! Tiền là thứ rất dơ bẩn, tuy rất dơ bẩn, nhưng mọi người đều giữ gìn nó như là bảo bối. Có người, khi đếm tiền thì dùng đầu ngón tay để vào miệng cho thấm một chút nước bọt, sau đó đếm đi đếm lại. Quý vị xem có dơ bẩn không? Vi khuẩn gây bệnh có rất nhiều trên tiền, nhưng mọi người vẫn không sợ, lại đem nó để vào túi, cho là càng nhiều càng tốt! Con người thì bằng lòng không thanh tịnh, đồ không thanh tịnh lại nắm chắc như là bảo bối.Tịnh tu phạm hạnh thì phải không có tiền. Có người nói, tôi làm không được! Đương nhiên quý vị làm không được rồi! Nếu quý vị làm được thì quý vị là Bồ-tát rồi; quý vị làm không được cho nên mới không phải là Bồ-tát. Việc này rất đơn giản!Hòa Thượng Tuyên Hóa luôn nhắc nhở đệ tử : Chân nhân bất lộ tướng, lộ tướng phi chân nhân (Người chân chánh chứng đắc không lộ hình tướng mình chứng đắc, kẻ biểu lộ chứng đắc không phải là người chân chánh chứng đắc).Hòa Thượng Tuyên Hóa đã nêu lên sự tai hại của việc tách rời Tăng Đoàn:"Người xuất gia sống một mình một chùa, xưng vương xưng bá, làm vua một cõi. Người tại gia do thiếu 'Trạch Pháp Nhãn' nên đi theo hộ Pháp cho họ, hộ tới hộ lui, và hộ luôn xuống địa ngục! Vào thời kỳ Chánh Pháp, tất cả đại chúng đều sống chung trong một đại tùng lâm của chùa, và cùng nhau dụng công tu Đạo. Song, vào thời kỳ Mạt Pháp, người ta lại không thích nếp sống của đại tùng lâm nữa. Mỗi người ở một chùa riêng - ông theo cách của ông, tôi theo cách của tôi - khiến cho người tại gia trở nên hoang mang, bối rối. Họ thấy ông sư nầy tướng mạo trông đẹp đẽ bèn hộ pháp cho ông ta, xây chùa riêng cho ông ta trụ trì. Rồi sau đó lại thấy một vị sư khác cũng không tệ lắm, họ lại xây cho vị đó một ngôi chùa nữa. Hộ tới hộ lui, rốt cuộc là làm cho những người xuất gia sanh lòng tham danh hám lợi đến nỗi phải hoàn tục!" (15)Do đó người xưa có câu: "Hổ ly sơn hổ bại, Tăng ly chúng Tăng tàn"! Chính Tăng Đoàn tạo duyên tu tập thanh tịnh giúp giữ gìn giới luật.Ngoài những điểm trên, như anh và quý Phật tử thấy, những người cùng tu tại Vạn Phật Thánh Thành với ông ta biết ông ta khá rõ nên đã gần mười năm qua mà không ai theo ông ta ngoại trừ ông Hằng Đức người Mã Lai, có lẽ cũng không rõ ông CE Hằng Trường nói những gì với Phật tử VN. Ngay cả những tăng ni Việt Nam tại Vạn Phật Thánh Thành không người nào theo, qua những năm sống và tu chung mọi người đều biết rõ nhau và họ đã chỉ nhìn những gì ông ta làm hơn là nghe những gì ông ta nói. Ông ta đưa vấn đề bị gọi là "thằng Việt Nam" nhằm dùng sự kỳ thị để bào chữa cho mình và khơi lòng tự ái dân tộc của người Việt. Đây là một thủ đoạn thiếu trung thật! Đúng như câu trong Đại Sự Ký: "luôn đóng vai luật sư biện hộ để chạy tội cho chính mình, lại quen dùng khổ nhục kế để chuyển hướng vấn đề hầu phân tán sự chú ý mọi người, lại còn tranh thủ sự đồng tình của ai không rõ tự sự." (2)Ông ta nói rất hay về Tri Hành Hợp Nhất, Từ Bi ... nhưng thật sự hình như Tri và Hành của ông ta khác nhau; đề cao từ bi, nhân quả, nhưng lại xảo quyệt dối gạt chúng sanh. Hòa Thượng đã nêu lên sự khác biệt giữa trí huệ thế gian và trí huệ xuất thế gian:Lại nữa, ông nên phân minh cái trí huệ thế gian và trí huệ xuất thế gian. Trí huệ thế gian nghĩa là Thế Trí Biện Thông (một trong tám nạn). Họ khéo léo nói năng, xảo ngôn, biện luận; điều không có lẽ phải, nhưng họ nói nghe rất là có lẽ phải. Người mê ám nghe họ nói liền cho rằng: “Ồ! Họ nói rất có lý, điều họ nói rất đúng”. Kỳ thật, nếu ông có trí huệ chơn chính thì không thể chấp nhận sự ngu lộng, ngụy càn, xảo ngôn của họ, không bị đạo lý ngu mê của họ khiến ông trở nên ngu mê. Ðây gọi là “trong dương có âm” (dương trung hữu âm), trong trí huệ có ngu si. Nhưng, ngược lại thì “trong âm cũng có dương” trong ngu si cũng có trí huệ. Giống như có những người rất ít nói, trông có vẻ rất bình thường, nhưng họ làm việc gì cũng đều chánh đáng cả. Thấy họ rất chậm lụt buồn cười, nhưng họ làm gì xét ra cũng đều hợp lý hợp đạo. Vì vậy, xem xét người khác chính là xem mình có hay không có trí huệ. Nếu mình có trí huệ thì không bị người dẫn đưa vào trong ngu si. Nếu không có trí huệ thì sẽ bị người dẫn đưa vào trong sự ngu si, càn quấy của họ. Trí huệ là như thế mà đối với những việc khác thì cũng vậy!Trong Gậy Kim Cang Hét quyển 1 có những đoạn vấn đáp giữa Phật tử và Hòa Thượng Tuyên Hóa có thể giúp chúng ta hiểu rõ thêm về việc tu hành:214. Hỏi: Làm thế nào để ủng hộ Phật giáo?Đáp: Để ủng hộ Phật giáo, quý vị nên lặng lẽ quán sát. Nếu là đạo thì nên tiến tới, còn không là đạo thì hãy thoái lui. Quý vị nên suy nghĩ cho chính chắn, vì có khi quý vị xuất tiền của là tạo công đức, có lúc xuất tiền của thì lại tạo tội. Người xuất gia không được có tiền của, một khi có tiền thì họ sẽ không giữ qui luật. Quý vị mà giúp họ, họ sẽ tha hồ ăn uống, điếm đàng, bài bạc. Được nhiều tiền thì họ sẽ hoàn tục. Nếu quý vị không giúp họ, thì họ còn tiếp tục tu hành. Nhất là khi chỉ có một người xuất gia sống đơn độc, thì chỉ cần có đủ ăn là được rồi.238. Hỏi: Xin hỏi chúng con phải hội đủ những tư cách nào mới có thể làm đệ tử của Ngài?Đáp: Là phải tự sửa đổi mình.279. Hỏi: Xin hỏi, người sơ phát tâm nên học Phật pháp như thế nào? Làm sao để lựa chọn đạo tràng và thiện tri thức để tu học và làm sao phán đoán, đó có phải là chánh pháp hay không?Đáp: Đây không có phương pháp gì cả. Quý vị tự mình phải có con mắt trạch pháp nhãn. Nếu là pháp thật quý vị không nên xem đó là giả, còn nếu là giả thì cũng không nên cho đó là thật. Như vậy là đủ rồi. (19)
doc tiep ..... http://www.dharmasite. net/ThuDocGiaveongCE_HTr.htm
http://www.dharmasite.net/ ==> this is the web site of The City of Ten Thousand Buddhas Thay xuat gia voi HT Tuyen Hoa O ngoi Chua nay
No comments:
Post a Comment